
Biệt động Quận I-Đà Nẵng cắm cờ trên nóc Tòa Thị chính lúc 11 giờ 30 phút ngày 29/3/1975 (Hình tư liệu)
Đà Nẵng hôm nay được gắn liền với sự kiện cách đây 555 năm. Đó là vào năm 1471, vua Lê Thánh Tông thành lập Quảng Nam Thừa tuyên. Và câu chuyện tách - nhập, nhập - tách điều chỉnh địa giới hành chính, thay đổi tên gọi giữa Quảng Nam -Đà Nẵng cũng bắt đầu từ đây.
Từ tên gọi đầu tiên Quảng Nam Thừa tuyên đến năm 1604 đổi thành Trấn Quảng Nam, Quảng Nam dinh (năm 1803), Trấn Quảng Nam (năm 1827), tỉnh Quảng Nam (1832). Trước khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, trên vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng, thực dân Pháp thực hiện hai chế độ cai trị, chế độ “bảo hộ” đối với Quảng Nam và chế độ “nhượng địa” đối với Đà Nẵng.
Từ năm 1930 đến tháng 8/1945, Quảng Nam và Đà Nẵng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Nam. Sau Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, Quảng Nam và Đà Nẵng được tách thành hai đơn vị hành chính là tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Đến tháng 11/1946, tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng hợp nhất thành tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng. Đến năm 1950-1952, tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng tách trở thành hai đơn vị hành chính độc lập. Tháng 3/1952, tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng tái hợp một đơn vị hành chính là tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng. Đến cuối năm 1962, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được tách thành hai đơn vị độc lập là tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà. Từ năm 1964 đến tháng 10/1967, thành phố Đà Nẵng tách ra khỏi tỉnh Quảng Đà. Đến tháng 11/1967, tỉnh Quảng Đà và thành phố Đà Nẵng hợp nhất thành Đặc khu Quảng Đà.
Đất nước thống nhất gần 6 tháng, tháng 10/1975 tỉnh Quảng Nam và Đặc khu Quảng Đà hợp nhất thành tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng. Đến cuối năm 1996, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng gồm có một thành phố là Đà Nẵng, hai thị xã là Hội An, Tam Kỳ và 14 huyện. Tỉnh lỵ đóng tại thành phố Đà Nẵng.
Từ ngày 01/01/1997 đến tháng 6/2025, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được chia tách thành hai đơn vị hành chính: tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương. Đến ngày 01/7/2025, thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy của Trung ương; tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng được sáp nhập thành đơn vị hành chính mới là thành phố Đà Nẵng.
Trải dài theo chiều dài lịch sử của vùng đất trên 500 năm kể từ khi xưng danh cho đến hôm nay; vùng đất này đã trải qua nhiều lần tách nhập, thay đổi, điều chỉnh địa giới hành chính để đến hôm nay về chung một nhà, chung một niềm tin, chung một ý chí: phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng, dựng xây Đà Nẵng ngày càng phát triển giàu mạnh.
Sự ra đời của Đảng bộ tiến đến ngày giải phóng quê hương
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời gần 2 tháng, ngày 28/3/1930, tại địa điểm Cây Thông Một, xã Cẩm Hà (nay là khối phố Tân Thanh, phường Hội An, thành phố Đà Nẵng), Ban Chấp hành lâm thời tỉnh Đảng bộ Quảng Nam ra Thông cáo về việc thành lập Đảng bộ; do đồng chí Phan Văn Định làm Bí thư.
Sau khi thành lập, Tỉnh ủy đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tổ chức huấn luyện và vận động quần chúng tham gia các phong trào đấu tranh để lựa chọn những người ưu tú kết nạp vào Đảng, xây dựng, củng cố các tổ chức của Đảng. Đến cuối năm 1930, toàn Đảng bộ phát triển được 70 đảng viên. Nếu tính cả đảng viên ở Đà Nẵng thì có 80 đảng viên. Hàng trăm quần chúng trung kiên được kết nạp vào Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Cứu tế đỏ; tổ chức vận động nhiều lực lượng quần chúng khác tham gia, ngay đến cả những người phục vụ trong tòa Công sứ Pháp tại Hội An.
Ngày 28/3/1930, ngày chính thức thành lập Đảng bộ tỉnh đánh dấu mốc lịch sử của Nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng bước vào thời kỳ mới - thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân chủ theo ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ mốc lịch sử này, Đảng bộ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng đã tiếp thu, vận dụng đúng đắn, sáng tạo đường lối cách mạng của Đảng vào tình hình cụ thể của địa phương, đề ra những chủ trương thích hợp, sát đúng, lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, Quảng Nam - Đà Nẵng là chiến trường trọng yếu, là địa đầu bảo vệ vùng tự do Khu V, đã góp phần cùng với quân và dân cả nước đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược ra khỏi bờ cõi của đất nước. Pháp vừa rút, đế quốc Mỹ thế chân, trực tiếp xâm lược nước ta. Ngang nhiên phá bỏ các điều khoản ký kết của Hiệp định Giơ-ne-vơ. Quảng Nam- Đà Nẵng là địa bàn chịu sự đàn áp vô cùng dã man của bọn tay sai phản động. Nhưng Đảng bộ và nhân dân Quảng Nam- Đà Nẵng không khuất phục trước kẻ thù, luôn kiên trung với Đảng, với dân tộc, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ vùng đất này. Mỗi giai đoạn, mỗi chủ trương đều gắn liền với vận mệnh chung của đất nước.
Từ những năm 1960-1965, thực hiện Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương, phong trào cách mạng trong tỉnh từ chỗ khó khăn, tổn thất đã từng bước khắc phục, chuyển đến đồng khởi giải phóng đại bộ phận nông thôn, đồng bằng, đẩy địch vào thế suy yếu. Từ đó, góp phần cùng quân dân trong Khu, trong miền đánh thắng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở Quảng Nam, Quảng Đà. Trong quá trình chỉ đạo cách mạng ở địa phương, Đảng bộ Quảng Nam- Đà Nẵng luôn coi trọng việc kết hợp giữa ba vùng chiến lược gồm miền núi, nông thôn và thành phố để hỗ trợ cho nhau, dựa vào nhau, phát huy thế mạnh của nhau, giúp nhau vượt qua khó khăn, tạo sức mạnh tổng hợp đánh thắng kẻ thù.
Bước vào giai đoạn 1965-1968, chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, Đảng bộ tỉnh đã chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, phương châm cách mạng của Đảng, vận dụng sáng tạo 3 mũi giáp công, 3 vùng chiến lược, nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, đi đầu diệt Mỹ. Chiến thắng Núi Thành, Gò Hà lịch sử và nhiều chiến công vang dội khác đã góp phần vào kinh nghiệm đánh Mỹ của nhân dân miền Nam và cả nước. Trong 3 đợt Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, ta đã tiêu diệt được bộ phận quan trọng sinh lực địch, giành được những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử, góp phần đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của quân Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, giáng một đòn quyết định vào chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ.
Những năm 1969-1972, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, quân và dân Quảng Nam, Quảng Đà đã vượt qua chặng đường đầy khó khăn, gian khổ và ác liệt, góp phần cùng cả nước đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Nhờ đó, làm xoay chuyển hẳn cục diện chiến trường có lợi cho ta, tạo điều kiện cơ bản nhất để tiến lên giành thắng lợi.
Trên đà thắng lợi, từ năm 1973-1975, với quyết tâm giải phóng quê hương; Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy liên tục suốt 27 ngày đêm (từ ngày 3/3 đến ngày 29/3/1975); đến đêm 21 rạng sáng ngày 22/3, các lực lượng của ta nổ súng tấn công toàn bộ các mục tiêu của địch ở vùng đông thị xã Tam Kỳ. Đến chiều 23/3, toàn bộ các cơ quan đầu não của địch ở Quảng Tín đều bị tê liệt. Bộ Tư lệnh tiền phương Quân Khu V quyết định giải phóng thị xã Tam Kỳ và đúng 10 giờ 30 phút, ngày 24/3/1975, lá cờ quyết chiến, quyết thắng của quân giải phóng tung bay trên đỉnh cột cờ tỉnh lỵ Quảng Tín, thị xã Tam Kỳ được hoàn toàn giải phóng. Đây là một tỉnh lỵ trên quốc lộ 1A đầu tiên của miền Nam được giải phóng. Tiếp đến, ngày 29/3/1975, thành phố Đà Nẵng được giải phóng, kết thúc thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc trên quê hương Quảng Nam- Đà Nẵng trung dũng, kiên cường.
Năm tháng trôi qua, màu xanh hòa bình trải dài trên quê hương đã 51 năm; nhưng sự kiện ngày 24/3/1975 và ngày 29/3/1975 mãi mãi đi vào lịch sử Đảng bộ Quảng Nam - Đà Nẵng như một mốc son chói lọi, về tinh thần quả cảm, sự kiên trung bất khuất của đất và người nơi đây. Trở thành mạch nguồn trong hành trình xây dựng thành phố Đà Nẵng hôm nay và mai sau, luôn giàu đẹp, văn minh, hiện đại, cùng cả nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.