Chi tiết tin

A+ | A | A-

Tư tưởng cải cách duy tân của Phan Châu Trinh đầu thế kỷ XX và giá trị trong nối cảnh đất nước hiện nay

Người đăng: Admin Tây Hồ Ngày đăng: 18:02 | 08/09/2026 Lượt xem: 169

Trào lưu dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX trở thành xu thế phát triển tư tưởng của nhiều nước Phương Đông trong đó có Việt Nam. Tiêu biểu cho trào lưu yêu nước này ở Việt Nam là hai chí sĩ Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh; bậc thầy về tư tưởng yêu nước, dẫn dắt Nhân dân đi vào vận hội mới, tuy tôn trọng và quý mến nhau, nhưng quan điểm canh tân yêu nước hai vị có khác nhau.

Vài nét về lãnh tụ của phong trào Duy Tân – cụ Phan Châu Trinh

Phan Châu Trinh sinh năm 1872, người làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, nay thuộc xã Tây Hồ, thành phố Đà Nẵng; hiệu là Tây Hồ, Hy Mã, tự là Tử Cán. Thân sinh cụ Phan là Phan Văn Bình, một võ quan nhỏ với chức Quản cơ sơn phòng, tham gia phong trào Cần Vương làm Chuyển vận sứ đồn A Bá (Tiên Phước) phụ trách quân lương. Mẹ ông là Lê Thị Trung, con gái nhà vọng tộc, thông thạo chữ Hán, ở làng Phú Lâm, huyện Tiên Phước.

Chí sĩ Phan Châu Trinh

Mẹ ông mất sớm vào năm ông lên 6 tuổi, ông phải theo cha, được cha dạy chữ và dạy võ. Cha mất năm ông mới 13 tuổi (1885), ông trở về quê sống với anh là Phan Văn Cừ và tiếp tục đi học. Năm 27 tuổi (1899), được tuyển vào trường tỉnh và học chung với Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn Đình Hiến, Phan Quang và Phạm Liệu, ...

Phan Châu Trinh đỗ Cử nhân năm 1900. Năm sau (1901), ông đỗ Phó bảng tại kỳ thi Hội, đồng khoa với Tiến sĩ Ngô Đức Kế và Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Khoảng thời gian này, người anh cả mất nên ông về để tang, dạy học. Năm 1902, ông vào học Trường Hậu bổ, sau ra làm Thừa biện Bộ Lễ, từ quan, kết giao với nhiều sĩ phu yêu nước như Huỳnh Thúc Kháng và Phan Bội Châu.

Năm 1905, ông cùng với hai bạn học là Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng (đều mới đỗ tiến sĩ năm 1904) làm một cuộc Nam du, với mục đích xem xét dân tình, sĩ khí và tìm bạn đồng chí hướng. Sau khi dừng chân ở Bình Định, làm thơ, phú chống lại lối khoa cử Nho học, ba ông tiếp tục đi vào các tỉnh phía Nam, lần lượt kết giao với Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang, Nguyễn Hiệt Chi và hai con trai của danh sĩ Nguyễn Thông là Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh.

Sau cuộc Nam du, Phan Châu Trinh ra Nghệ-Tĩnh, Thanh Hóa, Hà Nội để gặp gỡ và hội ý với các sĩ phu tiến bộ, rồi lên căn cứ của Đề Thám quan sát tình hình.

Trong thời gian từ năm 1902 đến 1905, Phan Châu Trinh có dịp học tesquieu, Voltaire... Càng tiếp xúc nhiều với các quan trường, Phan những tác phẩm có tư tưởng cách mạng của Jean Jacques Rousseau, Mon Trinh càng thấy rõ cảnh thối nát, hủ bại trên đường cử nghiệp.

Năm 1906, ông bí mật sang Nhật Bản gặp Phan Bội Châu, khởi xướng duy tân, cải cách nước nhà. Tháng 7.1907, Phan Châu Trinh ra Hà Nội tham gia giảng dạy ở Đông Kinh nghĩa thục, những buổi diễn thuyết của ông có rất đồng người đến nghe. Ông mở rộng giao du với cả một số người Pháp.

Năm 1908, vụ Hà thành đầu độc ở Hà Nội và phong trào chống thuế của tại Hà Nội, và bị đày ra Côn Đảo. Năm 1910, nhờ Hội Nhân quyền Pháp c nông dân Trung Kỳ nổ ra và bị thực dân Pháp đàn áp, tháng 4.1908 ông bị bắt thiệp, ông được trả lại tự do, nhưng bị quản thúc tại Mỹ Tho. Ông viết thư cho Toàn quyền phản kháng cảnh bị giam lỏng. Năm 1911, chính quyền Đông Dương buộc phải cử một đoàn giáo dục Đông Dương sang Pháp, có cả Phan Châu Trinh và con trai Phan Châu Dật. Tại Pháp, ông ở nhà luật sư Phan Văn Trường, mở một hiệu sửa ảnh. Ông tìm cách liên hệ với những người trong Liên minh Nhân quyền và Đảng Xã hội Pháp, tiếp xúc với các nhóm Việt kiều và các đảng phái tiến bộ, thảo luận vấn đề độc lập, tự do, dân chủ.

Năm 1913, Phan Châu Trinh tập hợp, chỉnh lý hoàn thiện một số công trình chuyên khảo, chính luận viết bằng chữ Hán như Trung Kỳ thuế sưu hà trọng..., Đông Dương chính trị luận, Pháp - Việt liên hiệp hậu chi Tân Việt Nam...

Ngày 28.7.1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, nhà cầm quyền Pháp đã gọi Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường đi lính, nhưng hai ống phản đối với lý do không phải là công dân Pháp. Năm 1914, ông lại bị bắt giam vào ngục Santé vì tình nghi có liên hệ với nước Đức. Vì không đủ bằng chứng buộc tội, chính quyền Pháp phải trả tự do cho hai ông. Thời gian này ông sáng tác Santé thi tập và chép lại các thơ văn đã làm trước đó.

Năm 1917, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Tất Thành thành lập Hội người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Ngày 19.6.1919, ông cùng với Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành soạn "Bản Yêu sách của nhân dân An Nam" gửi cho Hội nghị Versailles, ký tên chung là Nguyễn Ái Quốc, làm nổ ra "quả bom chính trị" chấn động tại nước Pháp.

Năm 1920, Phan Châu Trinh hội kiến với Bộ trưởng Bộ thuộc địa Anbe Sarô đòi hỏi cải cách chính trị ở Đông Dương. Năm 1922, khi vua Khải Định sang Pháp dự đấu xảo Marseille, ông viết một bức thư dài "Thất điều thư" buộc tội Khải Định 7 điều và khuyên vua về nước gấp, đừng làm nhục quốc thể.

Ngày 29.5.1925, Phan Châu Trinh cùng nhà cách mạng trẻ Nguyễn An Ninh rời nước Pháp về Sài Gòn. Ông tiếp tục hoạt động theo xu hướng cải lương, kêu gọi dân quyền, dân sinh, dân khí. Ông diễn thuyết hai lần ở Sài Gòn: Đạo đức và luân lý Đông Tây và Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa.

Bệnh tình trở nặng cuối năm 1925, ông qua đời lúc 21 giờ 30 ngày 24.3.1926, tại Sài Gòn, hưởng dương 54 tuổi. Ngày 04.4.1926, lễ an táng ông được cử hành hết sức trọng thể theo tinh thần một lễ quốc tang. Lễ vọng điều thụ tang được tổ chức hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước. Lễ truy điệu đế tang ông là cuộc biểu dương tinh thần dân tộc - dân chủ của phong trào yêu nước lúc bấy giờ, bất chấp sự ngăn cản của thực dân.

Tư tưởng cải cách duy tân của Phan Châu Trinh

Tư tưởng canh tân đã có từ giữa thế kỷ XIX với các điều trần của các nhà canh tân tiêu biểu như các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, bản Thiên hạ đại thể luận của Nguyễn Lộ Trạch... Nhưng ở Phan Châu Trinh có những nét mới hơn. Đề cao dân, ông quan niệm: “cứu dân để cứu nước”, từ đó giương cao ngọn cờ dân chủ, cải cách xã hội, chủ trương cứu nước bằng phương pháp nâng cao dân trí, dân quyền, vạch trần chế độ vua quan phong kiến thối nát, đòi Pháp sửa đổi chính sách cai trị thuộc địa.

Ngay từ đầu, ông đã có những chủ trương mang tính cách mạng. Sau khi cáo quan về quê, Phan Châu Trinh dốc lòng vào công việc cứu nước. Mặc dù rất đau xót trước cảnh thực dân Pháp ngược đãi người Việt Nam, quan điểm của Phan Châu Trinh trước mắt chưa nên đặt nhiệm vụ khôi phục chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc (tức đánh đuổi Pháp), mà nhiệm vụ cấp bách là phải:

Khai dân trí: bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ Quốc ngữ cùng kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục xa hoa.

Chấn dân khí: thức tỉnh tinh thần tự lực, tự cường, mọi người giác ngộ được quyền lợi và nghĩa vụ của mình, giải thoát khỏi tư tưởng chuyên chế phong kiến.

Hậu dân sinh: phát triển kinh tế, cho dân khai hoang làm vườn, lập hội buôn, sản xuất hàng nội địa hóa....

Cho nên sau khi ông vào Nam ra Bắc, năm 1906, ông xuất dương sang Nhật để trao đổi và tìm hiểu, tiếp xúc với nhiều nhà chính trị tại đây (trong số đó có Lương Khải Siêu) và xem xét công cuộc duy tân của xứ sở này, cuối cùng ông nhất quyết làm cuộc cải cách duy tân cho quốc dân, học hỏi cái khéo của người mà vận dụng vào trong nước.

Sau đó, ông sang Pháp chủ trương dựa vào Pháp để tiến hành cải cách, thực hiện tự do dân chủ, lật đổ chế độ phong kiến, làm cho dân giàu, nước mạnh, tiến lên giải phóng dân tộc. Sau khi về nước, ông ra sức tuyên truyền chủ trương cải cách của mình và đã trở thành một trong những người lãnh đạo xu hướng cải lương hồi đầu thế kỷ XX.

Ông gửi cho Toàn quyền Paul Beau một bức thư dài để ngày 15.8.1906. Trong thư, Phan Châu Trinh chỉ trích Chính phủ Pháp không lo mở khai hóa cho dân mà chỉ lo thu thuế cho nhiều, do đó dân đã khổ càng khổ hơn. Ông đề nghị chính phủ Đông Dương nên thay đổi thái độ đối với sĩ dân nước Nam, cải tổ mọi chính sách cai trị, để có thể giúp nhân dân Việt Nam từng bước tiến đến văn minh. Bức thư của Phan Châu Trinh đã có ảnh hưởng rộng lớn trong nhân dân. Ông bắt đầu hoạt động mạnh, hô hào, tổ chức nhiễu buổi diễn thuyết tại trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Thực dân Pháp để ý căm thù và triều đình Huế cũng rất bực tức, quyết tìm cách hãm hại ông.

Với việc đề cao phương châm "Tự lực khai hóa" và tư tưởng dân quyền, ông vận động những người cùng chí hướng thức tỉnh dân chúng, tuyên truyền tư tưởng dân quyền. Phan Châu Trinh cùng Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp đi khắp tỉnh Quảng Nam và các tỉnh lân cận để vận động cuộc duy tân, với khẩu hiệu Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh nhằm thực hiện mục tiêu cải tạo con người và xã hội Việt Nam.

Đối với đường lối hoạt động cứu nước của người bạn thân là Phan Bội Châu (ông gặp Phan Bội Châu vào khoảng tháng 7.1904) và sau đó trở thành đôi bạn thân thiết), Phan Châu Trinh rất hoan nghênh việc bạn và tổ chức của bạn (Duy Tân hội) đã vận động được một số học sinh ra nước ngoài học tập và phổ biến những tài liệu tuyên truyền giáo dục quốc dân trong nước. Song, ông phản đối chủ trương bạo động và tư tưởng Bảo hoàng của Phan Bội Châu (tôn Cường Để làm minh chủ), dựa vào Nhật để đấu tranh vũ trang chống Pháp dù ông và Phan Bội Châu đều rất tâm đắc về nhiệt huyết cứu nước.

Để thực hiện “chấn dân khí, ông chủ trương mở mang công thương nghiệp, chấn hưng công nghệ. Với tư cách lãnh đạo phong trào Duy Tân, Phan Chu Trinh khuyến khích đồng bào mở trường dạy học và lập các hội buôn. Thông qua việc mua bán để tập hợp nhau lại, cảm hóa được rất nhiều nhân sĩ. Tiền kiếm được dùng để mở trường, nuôi thầy, cấp phát sách vở cho học sinh. Việc mua bán này còn được gọi là Quốc thương. Đáng kể ở Quảng Nam có Hợp thương diễn phong của Cử nhân Phan Thúc Duyên, hiệu buồn của bang tá Nguyễn Toản. Cửa hàng Hồng Tân Hưng (nối theo Đông Kinh nghĩa thục) miền Bắc, Triệu Dương thương quán (Nghệ An), công ty Liên Thành (Bình Thuận),...

Phan Châu Trinh lại hô hào thanh niên vận Âu phục, cắt tóc ngắn, ủng hộ các sản phẩm và hàng nội hóa để giúp cho nền kinh tế trong nước được dồi dào. Đa số thanh niên trong toàn quốc đã nhiệt liệt hưởng ứng chủ trương duy tân này.

Ông cũng viết bản điều trần về cuộc đấu tranh chống sưu thuế năm 1908 ở miền Trung Việt Nam gửi Liên minh Nhân quyền. Ông viết Pháp-Việt liên hiệp hậu chi Tân Việt Nam, cho rằng không thể nhìn Việt Nam một cách cô lập mà phải đặt trong mối quan hệ với thế giới, trước nhất là với các nước mạnh và với nước Pháp, cũng như không thể chỉ nhìn hiện tại mà phải nhìn lại lịch sử đã qua và phải tìm hiểu xu thế phát triển sắp tới, tạo nên cách nhìn cả thời lẫn thế.

Phần trưng bày về Phan Châu Trinh tại Nhà lưu niệm Phan Châu Trinh (xã Tây Hồ, thành phố Đà Nẵng)

 

Cụ Phan Châu Trinh đã hấp thụ những tư tưởng cách mạng từ phía những nhà khai sáng Pháp. Vì thế, Cụ mới phê phán được luân lý đạo đức phong kiến, lớn tiếng lên án triều đình phong kiến, cổ xúy tư tưởng dân chủ ở trong xã hội phong kiến.

Ông chủ trương nâng cao dân trí bằng cách khuyến khích cải cách giáo dục bỏ lối học từ chương, xóa mù chữ bằng cách phát động phong trào học Quốc ngữ. Ngay từ cuộc Nam du năm 1905, rời quê hương lần đầu, ông đã thể hiện quan điểm chống lại lối khoa cử Nho học cổ lỗ xưa: Đến Bình Định, gặp kỳ khảo hạch thường niên của tỉnh, ba ông lẩn vào các khóa sinh. Vào trường thi, Phan Châu Trinh làm một bài thơ, còn hai bạn thì làm chung một bài phú. Cả ba đều ký tên giả là Đào Mộng Giác. Nội dung kêu gọi sĩ tử đang đắm đuối trong khoa trường và danh lợi, kêu gọi tỉnh dậy lo giải phóng, Các môn học được giảng dạy ở nhiều trường là: Quốc ngữ, toán, cách tr (khoa học thường thức), sử Việt, địa lý, thể dục... Có nơi, còn dạy thêm tiếng Pháp, chữ Hán và võ Việt. Ngoài ra, nhà trường còn là nơi tuyên truyền mà rộng công, thương nghiệp, đẩy mạnh sản xuất, phê phán quan lại, đả phá tập tục lạc hậu, thực hiện đời sống mới, bỏ mê tín dị đoan, thay đổi tập quán (cắt tóc ngắn, cắt ngắn móng tay)...

          Đáng kể ở Quảng Nam có trường Diên Phong do Trần Qúy Cáp tổ chức, trường Phú Lâm (có một lớp dành riêng cho nữ sinh), trường do Lê Cơ (anh em họ với Phan Châu Trinh) thành lập. Ở Quảng Ngãi, có trường do Cử nhân ngoài Công ty Liên Thành, Nguyễn Trọng Lội còn lập trường tư thục I Nguyễn Đình Quảng thành lập tại làng Sung Tích (Sơn Tịnh). Ở Phan Thiết, Thanh (1907) rồi giao cho em ruột là Nguyễn Quý Anh làm quản đốc. Ở Bình Thuận, một thư xã (nhà giảng sách) được thành lập (1905) tại đình Phú Tài. Ở Thanh Hóa có Hạc thành thư xã... Theo Trung Kỳ dân biến tụng oan thỉ, ký do Phan Châu Trinh viết, thì "trong năm 1906, 40 trường dẫn lập kiểu mới đã được mở ra ở Quảng Nam"... Trường Đông Kinh Nghĩa Thục thành lập tại Hà Nội tháng 3.1907 cũng nhờ công xúc tiến của ông. Điều mới mẻ là nó góp phần khuếch trương khuynh hướng chú trọng về thực nghiệm, tìm cách tự trang bị kiến thức, trong hoàn cảnh giáo dục lúc bấy giờ.

Phan Châu Trinh là một nhà văn hóa đa diện trong sinh hoạt văn hóa Việt Nam. Ông sáng tác rất nhiều, ngay từ hồi còn đi học ông đã làm thơ, sau này khi tham gia hoạt động cách mạng ông vẫn tiếp tục làm thơ, soạn tuồng viết văn, nhất là viết văn chính luận... Có thể nói trong lịch trình tiến triển văn học và chính trị nước nhà, Phan Châu Trinh là người viết văn chính luận rất nhiều và cũng khởi sắc nhất.

Tác giả: BBT (tổng hợp)

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

icon

Bản đồ hành chính

icon

Danh mục

icon

Thăm dò ý kiến

Bạn cảm thấy website của chúng tôi như thế nào ?
icon

Thống kê truy cập

Tổng số lượt truy cập

0000400349

Hôm nay: 659
Hôm qua: 393
Tháng này: 2822
Tháng trước: 26709